Chinh phục Sông Bồ bằng công trình thuỷ điện

Cũng như nhiều con sông khác ở miền Trung, sông Bồ ở Thừa Thiên Huế được biết với hình ảnh con sông quê hiền hoà và thơ mộng nhưng cũng đồng thời là con mãnh thú hung dữ. Là một trong những nhánh chính của dòng Hương Giang, sông Bồ (sách xưa gọi là Bồ Giang), bắt nguồn từ vùng núi phía tây thuộc biên giới Việt- Lào có độ cao đến 1.400m. Với chiều dài 85 km, len lỏi và uốn lượn qua bao núi đồi, làng mạc, cuối cùng con sông Bồ hợp lưu với sông Hương tại ngã ba Sình, cách Huế khoảng 8km về phía hạ lưu. Cũng chính từ con sông Bồ trong xanh và thơ mộng, đã xuất hiện bao tên làng, tên đất mà mỗi khi nhắc đến ta như cảm thấy lòng mình trào dâng một cảm xúc lâng lâng khó tả. Đó là Thành Trung, làng trồng rau nổi tiếng, nơi lưu giữ trong mình thành quách Hoá Châu xưa; là làng An Thuận xinh như bức tranh thuỷ mặc; là làng Hương Cần có quýt ngon nhất nước. Hay như Liễu Cốc Hạ, Cổ Lão, Phước Yên, một trong những phủ chúa Nguyễn thời kỳ đầu…Vậy nhưng, cũng chính dòng sông này đã trở nên hung hãn và là nỗi hãi hùng đối với bao người mỗi khi lũ lụt kéo về. Hạ lưu sông Bồ là vùng trũng ngập. Chưa mưa đã lụt. Lũ về là chia cắt. Cả vùng ngập chìm trong dòng nước trắng xoá. Trận đại hồng thuỷ năm 1999, sông Bồ được nhiều người ví với hình ảnh “con sông chết”. Nước lũ lên quá nhanh không kịp trở tay. Lụt lớn chia cắt khiến nhiều vùng hạ lưu bị cô lập hàng tuần lễ. Bao tài sản và mạng sống con người đã bị lũ dữ sông Bồ cuốn trôi theo dòng nước ra biển cả.

Chinh phục sông Bồ là khát vọng bao đời nay. Trong báo cáo “Quy hoạch thuỷ điện sông Hương” do Công ty Khảo sát thiết kế Điện I lập năm 1998 và hiệu chỉnh năm 2003 đã kiến nghị sơ đồ khai thác 4 công trình, gồm: Dương Hoà trên sông Tả Trạch, Bình Điền trên sông Hữu Trạch, Cổ Bi trên sông Bồ và Sê Kông 1 trên sông A Sáp (thượng nguồn sông Sê Kông). Và, đó cũng là lý do để cách nay 5 năm, ngày 15-5-2005, công trình thuỷ điện Hương Điền (tên gọi mới của thuỷ điện Cổ Bi) trên dòng sông Bồ được chính thức khởi công. Ra đời trong bối cảnh tình hình kinh tế- xã hội quốc gia đang trong giai đoạn phát triển, thuỷ điện Hương Điền có mục tiêu đầu tiên hướng đến là bổ sung nguồn năng lượng vào hệ thống điện Quốc gia với tổng công suất lắp đặt 81MW và sản lượng điện lượng hàng năm uớc khoảng 305,4 triệu Kwh. Bên cạnh đó là góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách cho địa phương, cải tạo cảnh quan, môi trường cho khu vực. Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả vẫn là khát vọng chinh phục, góp phần thuần hoá bản chất mãnh thú để con sông Bồ ngày càng hiền hoà, là người bạn chí tình, chí nghĩa, là nguồn lợi, nguồn sống cho bao gia đình. Đó là điều mà chúng tôi rút ra được khi đọc toàn bộ dự án xây dựng công trình của chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Đầu tư HD (tiền thân là Công ty Cổ phần Thuỷ điện Hương Điền). Chế ngự sự hung hãn của dòng Bồ Giang bằng điều tiết lũ vào mùa mưa và đẩy mặn, thau chua, giữ ngọt bảo đảm nguồn nước tưới cho các cánh đồng vùng hạ lưu ở Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà vào mùa khô. Có thể kể ra một vài thông số kỹ thuật chính khá ấn tượng, như: Diện tích lưu vực 707 km2, mực nước dâng bình thường 58m, dung tích toàn bộ hồ chứa trên 820 triệu m3, dung tích hữu ích hồ chứa trên 350 triệu m3, cột nước tính toán 47 m.     

Mục tiêu và những toan tính cũng đã rõ ràng. Vậy nhưng, để triển khai công trình, vẫn còn đó không ít băn khoăn, lo lắng cần giải toả và vượt qua. Trở lại với điều kiện tự nhiên khu vực dự án, theo khảo sát và tính toán của các nhà khoa học, lưu vực sông Bồ bao trùm sườn đông bắc của dãy Trường Sơn rất lớn và rất cao (cao trình tuyệt đối đến 1.500 m) tạo nên một thung lũng phần lớn có hướng gần như vuông góc với dãy núi. Còn theo tính chất của các điều kiện địa chất, địa mạo, trong thung lũng sông có thể phân chia thành 3 khu vực. Ở thượng lưu, trên các núi cao chủ yếu là thung lũng sông thẳng và các chi lưu phần lớn là hẹp với các sườn núi dốc đứng, mặt cắt ngang hình chữ V và các hình thái địa hình bào mòn đặc trưng cho các thung lũng núi trẻ. Đối với hạ lưu, vừa đi khỏi núi sông chảy vào trong vùng đồng bằng ven biển rộng và thấp với các hình thái địa hình tích tụ đặc trưng. Tại đây, sông có hình dáng đặc trưng của sông đồng bằng với dòng sông uốn khúc khúc khuỷu cắt không sâu vào đồng bằng. Cuối cùng là đoạn trung gian của thung lũng dài 15 km mà trong phạm vi của nó có thể bố trí các công trình thuỷ điện. Đặc trưng khu vực này là địa hình trung du với các cao trình tuyệt đối thường không quá 200-300 m, kết hợp với các hình thái bào mòn và tích tụ. Các hình thái bào mòn của địa hình đặc trưng chủ yếu cho các sườn dốc đứng của thung lũng sông chính, còn đáy sông lại đặc trưng có những bãi bồi khá rộng và các thềm sông thấp mà bề mặt bằng phẳng của chúng thường tiếp giáp đột ngột với các sườn và không có các dải đuôi trầm tích. Thổ nhưỡng ở lưu vực vùng cao sông Bồ chủ yếu là đất evuli trên các loại đá: granit, phiến silíc, cát kết quáczit, các bột kết nâu. Những mô tả đó cho thấy sự bảo đảm về mặt địa chất cho một công trình thuỷ điện trên sông Bồ. Việc xây dựng công trình, không như nhiều người lầm tưởng, không mang lại hậu quả xấu cho môi sinh, môi trường.

Nhật ký công trình thuỷ điện Hương Điền ghi lại không ít những gian nan trong hành trình vượt khó. Quá trình thực hiện dự án gặp không ít trở ngại. Đáng kể nhất là khó khăn do địa chất của khu vực xấu. Có thời điểm nổi lên dư luận gây nên sự hoang mang, cho rằng công trình đang được xây dựng trên một nền đất mà trầm tích lục nguyên có địa tầng bị nứt nẻ mạnh, phần đất phía trên đã bị phong hoá, thậm chí có nơi đá đã bị phong hoá thành đất. Thế nên, tốt nhất là thay đổi lại thiết kế hay di chuyển công trình khỏi vị trí hiện hiện tại. Thực tế, nền móng của công trình đối với tất cả các đập thuỷ điện được xây dựng, đập bê tông không bao giờ đặt trên nền đất phong hoá mà bao giờ cũng phải đào để lớp đá cứng đủ điều kiện làm nền móng. Với thuỷ điện Hương Điền, những người tham gia xây dựng đã phải có quyết tâm rất cao trong thi công và cao trình ở vị trí sâu nhất lên đến âm 23m. Việc thi công cũng gặp vô vàn khó khăn trong điều kiện mưa lụt kéo và những thất thường đỏng đảnh của thời tiết Huế. Năm 2007, lũ về quá sớm khiến cho nhiều hạng mục phải chậm lại. Đáng kể nhất là trường hợp thi công hố móng đập nhiều lần bị lũ tràn qua gây nên không ít những tốn kém về vật tư và nguồn nhân lực. Có lúc tưởng chừng như công trình thuỷ điện Hương Điền không thể thực hiện được.

Trở lại với tiến độ thi công của công trình thuỷ điện Hương Điền. Nhật ký công trình cho thấy những tín hiệu vui. Chỉ 1 năm sau ngày khởi công, vào cuối tháng 12-2006, công trình cống dẫn dòng đã hoàn thành, công tác đào hố móng nhà máy và kênh xả theo thiết kế ban đầu cũng xong xuôi. Đặc biệt, cũng trong thời điểm này, đã thực hiện thành công ngăn dòng sông Bồ lịch sử. Các hợp đồng cung cấp thiết bị được thực hiện đúng theo tiến độ yêu cầu. Ngày 27-12-2009, bắt đầu triển khai tích nước hồ chứa nước. Vào lúc 0h30 ngày 10-10-2010 vừa qua, tổ máy số 1 hoà điện lưới Quốc gia. Tính sơ bộ, hiện nay dự án đã hoàn thành đến 98% công trình; đang chuẩn bị đưa vào vận hành tổ máy số 2 và đang xúc tiến để thi công tổ máy số 3. Nếu không có gì trở ngại, quý III năm 2011, toàn bộ công trình với 3 tổ máy sẽ được hoàn thành. Xin phép được mở ngoặc. Hai năm sau khi công trình thuỷ điện Hương Điền xây dựng, ngày 30-6-2007, công trình thuỷ điện A Lưới nằm ở thượng nguồn sông A Sáp là phụ lưu cấp 3 của hệ thống sông Mê Kông cũng được khởi công. Sông A Sáp bắt nguồn từ dãy núi cao trên đỉnh Trường Sơn, tại biên giới Việt- Lào. Lưu vực sông A Sáp thuộc địa phận huyện A Lưới cách Huế chừng 70 km. Ở thượng nguồn, sông chảy theo hướng từ đông nam sang tây bắc, tiếp tục lại chảy theo hướng đông bắc sang tây nam, sau khi có thêm nhiều nhánh suối lớn nhỏ, rồi nhập với sông A Lin (tại biên giới Việt- Lào), sau đó theo nhánh sông Sê Sáp chảy vào sông Mê Kông. Công trình thuỷ điện  A Lưới được khai thác theo sơ đồ nhà máy đường dẫn, dòng chảy sau khi quá các tổ máy phát điện được chuyển về hồ của thuỷ điện Hương Điền. Thực tế, do có nguồn nước bổ sung thêm từ nhà máy thuỷ điện A Lưới với lưu lượng thiết kế 43,3 m3/s so với lưu lượng thiết kế của thuỷ điện Hương Điền 130,1 m3/s nên thuỷ điện Hương Điền có khả năng tăng công suất lắp máy để tận dụng tối đa nguồn nước bổ sung trên và tăng sản lượng điện hằng năm.

  Ý thức, tình yêu nghề và trách nhiệm cao của chủ đầu tư cùng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân viên Công ty cổ phần đầu từ HD chính là nhân tố hàng đầu tạo nên sức bật mạnh mẽ trên công trình xây dựng thuỷ điện Hương Điền, đảm bảo cho công trình vừa đảm bảo tiến độ thi công, vừa bảo đảm chất lượng đề ra. Đồng hành cùng công ty vượt chặng đường gian khó và thử thách phải kể đến các nhà tài trợ vốn. Trong tổng số nguồn vốn đầu tư lên tới 1.750. 320.000.000 tỷ đồng  chỉ có 20% là vốn tự có của đơn vị. Còn lại có đến 50% là vốn vay từ Ngân hàng Phát triển và 30% vay từ Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Quốc tế và các tổ chức tín dụng khác. Ngân hàng Phát triển với nguồn cho vay lớn nhất cũng là người bạn lớn nhất của công trình. Bên cạnh sẵn sàng đáp ứng nguồn vốn đầu tư, Ngân hàng Phát triển thường xuyên cử cán bộ bám sát, theo dõi công trình, tinh giản những thủ tục rườm rà, đóng góp nhiều ý kiến xác thực trong sử dụng vốn hiệu quả, kịp thời giải ngân vốn theo yêu cầu nhằm đảm bảo tiến độ. Sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương từ tỉnh đến các huyện, xã, đặc biệt trong công tác giải tỏa mặt bằng, giải quyết tốt các chế độ chính sách có liên quan cũng là nhân tố hết sức quan trọng. Tất cả đã đến với công trình thuỷ điện Hương Điền bằng niềm tin và sự hy vọng về nguồn điện sáng làm giàu cho đất nước; bằng khát khao chế ngự sự hung hãn bất kham của con sông Bồ để mãi mãi còn lại trong tâm tưởng mọi người về một con sông quê hương hiền hoà, góp phần đem đến sự tốt tươi cho những cánh đồng lúa và sự an lành cho cuộc sống của bao người dân./.


Loading the player ...